TƯ VẤN DU HỌC > >
Đất nướcTrung Quốc Email

Các trường ở Nam Kinh và Thượng Hải

(20 Sep 2011 11:12:32)

Nam Kinh là thành phố cổ nằm ở phía Nam sông Trường Giang, là Thành phố Trung tâm của tỉnh Giang Tô với diện tích 6,598 km2 và dân số hơn 6,0 triệu người. Đây là một Thành phố có lịch sử lâu đời, là Kinh đô của đất nước Trung Hoa trải qua 06 triều đại. Ban đầu là nhà Ngô (thời Ngô Quyền, năm 229CE) nhưng sau đó chuyển về JianAn, và đến năm 937 đến 1420 trải qua các triều vua từ triều nhà Đường đến triều nhà Minh. Đến năm 1420 thì Kinh đô được dời về Bắc Kinh ngày nay

 

Giới thiệu thành phố Nam Kinh


Thành phố Nam Kinh, bắt đầu hình thành từ thời Chiến Quốc dưới tên gọi huyện Kim Lăng(金陵邑) do Uy Vương nước Sở xây dựng, gọi tắt là ninh (), là thủ phủ của tỉnh Giang Tô, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nam Kinh là một trong 4 cố đô của Trung Quốc, do đó còn có tên gọi khác là “六朝古都” (Cố đô của sáu triều đại). Nam Kinh nằm ở hạ nguồn sông Trường Giang, là một điểm du lịch , thành phố công nghiệp và trung tâm kinh tế quan trọng dọc sông Trường Giang. Đồng thời cũng là một trung tâm văn hóa giáo dục quan trọng của Trung Quốc, đầu mối giao thông quan trọng của vùng Hoa Đông


   Toàn cảnh thành phố Nam Kinh

1Những thông tin cơ bản
Địa hạt
-Gồm 11 khu2huyện . Trong đó鼓楼,白下,玄武,秦淮,建邺,下关,雨花台,栖霞là khu vực trung tâm của thành phố
Diện tích
-Toàn thành phố có tổng diện tích là 6600 km2Trong đó khu nội đô 4730.74km2. Ngoại ô 782.75km2Cập nhật từ tháng 11/2009
Dân số
-Cuối năm 2009 , Số hộ tịch của toàn thành phố là 629.77 vạn ngườiNội đô 545.97 vạn ngườiSố người thường trú 771.31 vạn người
Dân tộc.
-Nam Kinh có tổng cộng 51 dân tộc, trong đó dân tộc Hán chiếm 98.56%
Tôn Giáo
-Toàn thành phố có đạo giáo, thiên chúa giáo, cơ đốc giáo, Phật giáođạo hồi 5 tôn giáo chính, số người theo đạo là khoảng 30 vạn, số người giảng đạo khoảng 300 người, có 289 địa điểm được thành phố cấp giấy phép hoạt động tôn giáo
Phương ngữ
-南京官话Nankinese
Thuộc vào dòng ngôn ngữ phía Bắc của người Trung Quốc
Tiếng Nam Kinh có lch sử lâu đời trong các phương ngữ của người Trung Quốc. Thời nhà Minh và nhà Thanh trở về trước được coi là ngôn ngữ tiêu chuẩn cho người Trung Quốc, các nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên khi sang giao lưu cũng sử dụng tiếng Nam Kinh
Tượng trưng của thành phốTrừ tà(辟邪)
Cây tượng trưngCây tuyết tùng (雪松)
Hoa tương trưngHoa mai(梅花)
Bài hát của thành phố:《茉莉花》
Vị trí
-Nằm ở phía Tây Nam tỉnh Giang Tô, hạ nguồn sông Trường Giang bờ phía Nam, là thành phố lớn thứ hai trong vùng tam giác kinh tế vùng hạ nguồn sông Trường Giang(sau Thượng Hải), là thành phố có lịch sử văn hóa lâu đời, năm 2014 sẽ tổ chức Thế vận hội Thanh niên thế giới
  
2Lịch sử


Thời Sở Tần
- Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Nam Kinh ở vào vị trí “Đầu nước Ngô, cuối nước Sở”, nằm dưới sự quản lí của nước Ngô.  
472 TCN, Việt Vương Câu Tiễn sau khi diệt Ngô, kiến lập “Việt Thành” ở cạnh bờ sông Tần Hoài
-306 TCN, Sở vương Uy Vương lập nên một thành trên núi đá, gọi là huyện Kim Lăng
- 210 TCN, Tần Thủy Hoàng đổi Kim Lăng thành Mạt Lăng
 
Cố đô 6 triều
-Năm 211, Tôn Quyền đổi tên Mạt Lăng thành Kiến Nghiệp(建业). Năm 229, Tôn Quyền tự xưng là Ngô Vương, chuyển kinh đô từ Vũ Xương về Kiến Nghiệp
-Năm 280, Tây Tấn diệt Ngô, đổi建业thành 建邺(dịch sang tiếng việt vẫn là Kiến Nghiệp). Về sau để tránh phạm húy Tấn Mẫn Đế Tư Mã Nghiệp(司马邺) lên đổi tên thành Kiện Khang (健康) Năm 317, Tư Mã Duệ lên ngôi, tức Tấn Nguên Đế , Đông Tấn chính thức thành lập, định đô ở Kiện Khang
-Năm 420 Lưu Dụ diệt Tấn lập nên nhà Tống, đinh đô ở Kiện Khang. Năm 479, Tiêu Đạo Thành diệt Tống xưng vương, lập nên nhà Tề định đô ở Kiện Khang, Năm 502 Tiêu Diễn Đại lập nên nhà Lương, định đô ở Kiện Khang. Năm 557 Trần Bá Tiến thay nhà Lương bằng nhà Trần định đô ở Kiện Khang
-Ngô, Đông Tấn, Tống, T, Lương, Trần 6 triu đại định đô ở Nam Kinh vì thế nên Nam Kinh có tên gọi là cố đô 6 triều
Thái Bình Thiên Quốc
-Năm 1853Thái Bình Thiên Quốc-khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc tấn cống Nam Kinh(lúc đấy gọi là Giang Ninh)sau đó đổi tến Giang Ninh thành Thiên Kinh rồi định đô ở đây. Phủ tổng thống hiện nay chính là nơi ở trước kia của Hồng Thú Toàn, người lãnh đạo phòng trào. Năm 1864, Nhà Thanh đánh chiếm Thiên kinh, Thái Bình Thiên Quốc diệt vong
Thành phố của lòng Bác Ái
-Năm 1912, Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh nhâm chức đại thủ tướng lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, lấy Nam Kinh là thủ đô của Trung Quốc
-Năm 1927, quân Bắc phạt tấn công Nam Kinh, không lâu sau Chính phủ Quốc dân Nam Kinh được thành lập
-19 tháng 9 năm 1937 quân nhật được lênh oanh tạc Nam Kinh
-13 tháng 12,quân Nhật chiếm Nam kinh, sau đó tiến hành một cuộc đại thảm sát diễn ra trong 6 tuần giết hại hơn 30 vạn người
Tái sinh thành phố
-Từ 23-24 tháng 4 năm 1949, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc giành lại Nam Kinh, thành lập chính phủ Nhân dân Nam Kinh  
-Sau năm 1949, Nam Kinh là thành phố trực thuộc trung ương
-Năm 1952 khôi phục lại tỉnh Giang Tô, Nam Kinh bi hạ xuống làm thành phố trực thuộc tỉnh cho đến ngày nay
  
3Tài nguyên môi trường

Khí hậu


Mùa xuân

Mùa hè

Mùa thu

Mùa đông
-Nam Kinh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, lượng mưa hàng năm là 1200 mm, khí hậu phân 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ bình quân là 15.4 đô C, nhiệt đô cao nhất là 39.7 độ C, thấp nhất là -13.1 đô C,Mùa Xuân có tiết hoa mai, gió xuân mưa phùn, mùa Hạ nóng bức, cùng với Vũ Hán, Trùng Khánh là một trong “3 lò lửa của Trung Quốc”, Mùa thu khô và mát mẻ, mùa Đông lạnh, khô hanh, Nam kinh Đông Hạ kéo dài, Xuân Thu ngắn, mùa đông và mùa hạ có sự chênh lệch nhiệt độ đáng kể  
Địa hình
-Nam Kinh nam bắc dài , tây đông hẹp, chiều dài nếu tính theo hương nam bắc là 150 km, theo hướng đông tây phần trung tâm khoảng cánh từ 50-70km, hai đầu nam bắc khoảng cách đông tây là khoảng 30 km.. Sông Trường Giang chảy qua địa phận Nam Kinh là khoảng 95 km, tổng diện tích mặt nước chiếm khoảng 11,4 %, bình nguyên 24,08 %, đồi, núi thấp chiếm 64.52 %

4Giao thông

Đường sắt
-Có tổng cộng 4 nhà ga, đi đến Thượng Hải mất có 2 tiếng nếu ngồi 动车 nhưng giờ còn nhanh hơn vì có ĐSCT
Hàng không
-Sân bay quốc tế 禄口国际 cách trung tâm 35.8 km, có thể bay đến Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh nhưng phải qua transit ở Quảng Châu hoặc đảo Hải namKiến nghị nên bay theo đương đảo Hải Nam vì giá rẻ
Metro

-Ngày 3 Tháng 9 năm 2005 chính thức đưa vào hoạt động hiện giờ đã có 85 km. Dự kiến đến cuối năm 2014 sẽ có 240 km. Năm 2030 sẽ đưa vào 17 tuyến với tổng chiều dài 655 km
Đường thủy
-Cảng Nam kinh là cảng quốc nội lớn nhất Trung Quốc, dọc theo sông Trường Giang chỉ kém cảng ở Thượng haỉ về độ tập trung vận chuyển hàng hóa.
Taxi
-Khởi điểm: 10 tê/3 km, vượt qua 3 km mỗi km tính 2.4 tệ, ban đêm là 3.2 tệ. Ngoài ra còn tính thêm 1 tệ tiền xăng dầu. Như vậy không cần biết bạn đi đâu, cứ lên taxi là chắc chắn phải trả 11 tệ cái đã  
5Ẩm thực

-Món ăn ngon có thể tìm đến夫子庙、狮子桥(在湖南路附近)
6Sản phẩm độc đáo

-Nam Kinh có rất nhiều sản phẩm độc đáo đặc sắc như 云锦(một loại gấm)mũ nhung(天鹅绒)、金陵折扇及木雕(Một loại quạt) vvNgoài ra cũng chú ý đến雨花石(Đá Vũ Hoa) cũng rất hay đươc mua làm đồ lưu niêm
7Các điểm du lịch

Hồ Huyền vũ (玄武湖)

-Được biết đến từ thời Tam Quốc Diễn Nghĩa, lúc bấy giờ Nam Kinh là kinh đô của nước Ngô, Tôn Quyền thường cho quân sĩ tập luyện thủy quân trên hồ. Nhà Tống cũng từng 2 lần cho duyệt thủy quân trên hồ. Các triều đại phong kiến sau, hồ là nơi vui chơi giải trí của triều thần và vua chúa. Đến năm 1911 chính thức mở Công viên hồ Huyền Vũ, từ đây hồ Huyền Vũ thành một khu du lich nổi tiếng của Nam Kinh
Lăng mộ của vua Minh (明孝陵)

-Minh thái tổ Chu Nguyên Chương và hoàng hậu của ông được chôn tai đây, tên gọi của lăng có chữ hiếu() chỉ phương châm của Chu Nguyên Chương lấy hiếu thuận trị thiên hạ. Chu Nguyên Chương phải mất 32 năm để xây dựng lăng mộ. Trong ảnh là một đôi lạc đà một đứng một ngồi nằm đôi diện nhau ở hai bên đường đi (đường này gọi là Thần Đạo (神道)) Ngoài lạc đà ra còn có sư tử, voi vv... tất cả đều là một đôi một đối diện nhau, đều một đứng một ngồi, nguyên do là người xây lăng muốn mọi người mỗi lần đi qua con đường này đều có cảm giác cung kính nể phục (肃然起敬), điểm đặc biệt là đương Thần đạo có một đoạn thẳng, một đoạn vòng, nguyên nhân là đường đi qua lăng mô của Ngô Quyền (Thời Tam Quốc), Chu nguyên Chương coi Tôn Quyền là một hảo hán, đồng thời mong muốn Tôn Quyền canh gác cho mình vì vậy phải xây đường vòng để qua mộ Tôn Quyền mà không di chuyển mộ đi chỗ khác
Phủ tổng thống (总统府)

-Năm 1912, Là nơi ở củaTôn Trung Sơn, tổng thống đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc, bây giờ là Bảo tảng lịch sử cận đại Nam kinh, đã có rất nhiều sự kiện lịch sử diễn ra tại đây.Trong phủ có một chiếc thuyên đặc biệt mà vua Khang Hy đời nhà Thành gọi là “不系船” , Ở ĐÂY không đọc là xi4 mà đọc là ji4 có nghĩa là thăt nút, buộc vào. 不系船có nghĩa là thuyền không cần dây thừng buộc (bởi vì đơn giản thuyền được làm từ đá và dính luôn vào cầu ). Phủ tổng thống thời nhà Thanh là nơi ở của tổng đốc Lưỡng Giang (đầu thời nhà Thanh là hai tỉnh Giang Nam và An Huy, đến thời Khang Hy Giang Nam phân thành hai tỉnh Giang Tô và Giang Tây), nơi dừng chân của vua khi đi vi hành. Thời Thái Bình Thiên Quốc, Nam Kinh là thủ đô của nhà nước nông dân đầu tiên ở Thủ lĩnh phong trào Hông Thú Toàn ở Phủ tổng thống (lúc đấy gọi là phủ Thiên Vương), tại đây ông cho dựng một đình cây cọ (棕榈亭) mang đậm chất quê hương Quảng Tây của ông.
Đài Vũ Hoa(雨花台)

Ảnh đã được thu nhỏ. Click vào đây để xem với kích thước đủ. Ảnh nguyên bản có kích thước 500x294.


-Có rất nhiều đá vũ hoa (雨花石)-một loại đá đặc biệt chỉ có ở Nam kinh. Tương truyên pháp sư Vân Quang ở đây truyền kinh phật đạo, ông giảng đến nỗi cảm động cả trời cao, trời liền rơi một trận mưa đầy cánh hoa (花瓣雨) , vì thế nơi này được đặt tên đài Vũ Hoa(nơi có trân mưa cánh hoa -雨花台) . Những cánh hoa rơi xuống biến thành đá vũ hoa ( 雨花石 ). Đấy là truyền thuyết kể lại, còn chính xác nguyên nhân hinh thành đá vũ hoa là từ đâu? Trong thời cổ đại, Nam Kinh nằm trong khu vực lòng sông Trường Giang, sau đó thông qua quá trình vận động dài của núi lửa, dưới tác dụng của vận động địa chát, trầm tích đến lớp đá cuội (砾石层-conglomerate layer) đá vũ hoa được hình thành. Đá vũ hoa có nhiều loại khác nhau, từ hình người, động vât đén các loại hoa vv...... Ở YuHuaTai có hẳn một bảo tàng về các loại đá vũ hoa
Lăng mộ Tôn Trung Sơn(中山陵)

-Tôn Trung Sơn là người lãnh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại Mãn Thanh và khai sinh nước Trung Quốc mới, người dân Trung Quốc gọi yêu mến ông là "Quốc phụ Trung Hoa“ .Ông mất ở Bắc Kinh nhưng theo nguyện vọng của ông, người ta đã xây dựng lăng mộ của ông ở Nam kinh. Nguyên do vì Tôn Trung Sơn muốn mình được chôn tai nơi khai sinh của Trung Hoa dân quốc, Lăng Trung Sơn(中山陵)được xây dựng từ tháng 1 năm 1926 đến mùa xuân năm 1929 theo bản thiết kế của Lữ Ngạn Trực.
8Giáo dục

-Nam Kinh Được xếp vào top 3 ở Trung Quốc về số lượng các phòng thí nghiệm cũng như trung tâm nghiên cứu trong điểm của quốc gia(2 phòng thí nghiệm quốc gia , 16 phòng thí nghiệm trọng điểm , 10 trung tâm nghiên cứu kĩ thuật)
Giáo dục đại học
-Là trung tâm văn hóa giáo dục quan trọng ở vùng Hoa Đông cũng như của Trung Quốc. Tính đến năm 2006, thành phố có 41 trường đại học (không bao gồm 8 viện trường của quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc), sinh viên đại học 55.71 vạn, nghiên cứu sinh 6.37 vạn. Nam Kinh có tổng cộng 985 viện, 2 trường: Đại học Nam Kinh, Đại học Đông Nam được xếp vào trường quan trọng trong đề án “Công trình 211” quốc gia. 8 trường được xây dựng theo mô hình “ công trình 211”: Đại học Nam Kinh, Đại học Đông Nam, Đại học Hồ Hải, Đại học Khoa học và Công nghệ Nam Kinh, Đại học Hàng không Nam Kinh, Đại học Nông nghiệp Nam Kinh, Đại học Sư phạm Nam Kinh, Đại học Trung Y. Trong đó, đại học Nam Kinh, Đại học Đông Nam, đại học Hồ Hải, đại học Nông nghiệp , Trung Y là những trường trực thuộc bộ giáo dục và đào tạo Trung Quốc, đại học Khoa học và công nghệ, đại học Hàng không Nam kinh trực thuộc Bộ công nghiệp và Tin tức hóa sản nghiệp của Trung Quốc. Ngoài ra cũng còn rất nhiều trường đại học, học viện khác nữa ở Nam Kinh

 

Giới thiệu thành phố Thượng Hải

 

Thượng Hải là thành phố hiện đại và lớn nhất Trung Quốc. Thượng Hải là một trong 4 thành phố trực thuộc trung ương của nước này. Diện tích: 6.340,5 km2. Dân số thành phố là 17.110.000 người (trong đó nội ô là 9,838 triệu người). GDP: 745 tỷ Nhân dân tệ (khoảng 93 tỷ USD), GDP đầu người 42.800 NDT (khoảng 5400 USD). Thượng Hải được xem là thủ đô kinh tế của Trung Quốc.

 

Ngày nay, Thượng Hải có hải cảng sầm uất nhất thế giới, hơn cả cảng Singapore và Rotterdam. Xuất phát là một làng chài hẻo lánh, Thượng Hải đã trở thành một thành phố quan trọng bậc nhất cho đến Thế kỷ 20, và là trung tâm văn hóa phổ thông, các mưu đồ chính trị và nơi tụ họp của giới trí thức trong thời kỳ Trung Hoa dân quốc. Thượng Hải đã từng một thời là trung tâm tài chính lớn thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau Thành phố New York và Luân Đôn, và là trung tâm thương mại lớn nhất Viễn Đông cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Sau khi Mao Trạch Đông cầm quyền Trung Quốc kể từ năm 1949, Thượng Hải đã đi vào thời kỳ sụt giảm tốc độ phát triển do chế độ thuế má cao và do sự triệt thoát kinh tế tư bản của chính quyền mới. Nhờ sự cải cách, mở cửa theo mô hình kinh tế thị trường do Đặng Tiểu Bình khởi xướng và lãnh đạo mà đặc biệt là từ năm 1992, Thượng Hải đã có những bước bứt phá ngoạn mục về phát triển kinh tế và nhanh chóng vượt qua Thâm Quyến và Quảng Châu - một thành phố đặc khu được tự do hóa sớm nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để trở thành đầu tàu kinh tế Trung Quốc. Vẫn còn nhiều thách thức cho thành phố này đầu thế kỷ 21 như nạn di dân ồ ạt và sự phân hóa giàu nghèo. Tuy nhiên, bất chấp những thách thức đó, các khu nhà chọc trời và cuộc sống đô thị sôi động của Thượng Hải vẫn là biểu tượng của sự thần kỳ kinh tế Trung Quốc.

 

Ngôn ngữ

 

Tiếng mẹ đẻ của dân Thượng Hải là tiếng Thượng Hải, một phương ngữ của Ngô ngữ trong khi ngôn ngữ chính thức là tiếng Quan Thoại. Tiếng Thượng Hải và tiếng Quan Thoại khác nhau và thông thường dân Bắc Kinh không thể trò chuyện với dân Thượng Hải thông qua tiếng Thượng Hải. Tiếng Thượng Hải ngày nay là một phương ngữ của Ngô ngữ nói ở Tô Châu với các phương ngữ của Ninh Bá và các vùng phụ cận có dân nhập cư vào Thượng Hải với số lượng lớn vào thế kỷ 20. Gần như toàn bộ dân Thượng Hải dưới 40 tuổi có thể nói tiếng Quan Thoại thông thạo. Dân cư có thể nói ngoại ngữ phân bố không đều. Những người tốt nghiệp đại học trước cách mạng và những người làm cho các công ty nước ngoài có thể nói tiếng Anh. Những người dưới 26 tuổi đã có tiếp xúc với tiếng Anh kể từ tiểu học do tiếng Anh được bắt đầu dạy ở lớp 1.

 

Các đơn vị hành chính

 

Một phần của Phố Tây Thượng Hải

 

Phố Đông về đêm

 

 

Phố Đông của Thượng Hải

 

Thượng Hải là một trong 4 thành phố trực thuộc Trung ương (trực hạt thị) và gồm 18 quận (thị hạt khu) và 1 huyện. Thượng Hải không có quận nào độc chiếm vị thế trung tâm thành phố, mà khu vực trung tâm trải ra vài quận. Các khu vực kinh doanh có tiếng là Lục Gia Chủy (陆家嘴; Lujiazui) bên bờ đông sông Hoàng Phố, Bund tức Ngoại Than (外灘; Wàitān) và Hồng Kiều (虹桥) ở bờ tây sông Hoàng Phố. Tòa thị chính và các cơ quan hành chính chủ yếu nằm ở quận Hoàng Phố. Đây cũng là khu vực thương mại, kể cả đường Nam Kinh (Nam Kinh lộ) nổi tiến

 

Địa lý và khí hậu

 

Nuvola apps kweather.svg Khí hậu 上海 (1971-2000)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình tối cao °C (°F) 8.1 (47) 9.2 (49) 12.8 (55) 19.1 (66) 24.1 (75) 27.6 (82) 31.8 (89) 31.3 (88) 27.2 (81) 22.6 (73) 17.0 (63) 11.1 (52) 20,2 (68)
Trung bình tối thấp °C (°F) 1.1 (34) 2.2 (36) 5.6 (42) 10.9 (52) 16.1 (61) 20.8 (69) 25.0 (77) 24.9 (77) 20.6 (69) 15.1 (59) 9.0 (48) 3.0 (37) 12,9 (55)
Lượng mưa mm (inch) 50.6 (2) 56.8 (2.2) 98.8 (3.9) 89.3 (3.5) 102.3 (4) 169.6 (6.7) 156.3 (6.2) 157.9 (6.2) 137.3 (5.4) 62.5 (2.5) 46.2 (1.8) 37.1 (1.5) 1.164,5 (45,8)

Nguồn: China Meteorological Administration 17 tháng 3 năm 2009.

 

Kinh tế

 

Thượng Hải thường được xem như trung tâm tài chính và thương mại của Trung Hoa đại lục. Thượng Hải bắt đầu thực sự phát triển nhanh từ 1992, sau các thành phố ở các tỉnh phía nam Trung Quốc (Quảng Châu, Thâm Quyến, Chu Hải,Sán Đầu, Hạ Môn...) khoảng 10 năm. Trước đó, ngân sách của thành phố phần lớn để lại cho chính quyền trung ương ở Bắc Kinh, phần để lại cho thành phố này rất ít. Dù đã giảm gánh nặng thuế má kể từ 1992, nguồn thuế thu tại Thượng Hải vẫn đóng góp cho chính quyền trung ương chiếm khoảng 20-25%, trước đấy là 70%. Thượng Hải ngày nay vẫn là thành phố phát triển và đông dân nhất Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cảng Thượng Hải xếp hàng đầu thế giới về lượng hàng hóa thông qua, khoảng 443 triệu tấn hàng/năm. Nếu tính về lượng container vận chuyển, các cảng của Thượng Hải xếp thứ 3, sau Singapore và Hong Kong. Thượng Hải và Hong Kong gần đây đang tranh đua vị trí trung tâm kinh tế của Trung Quốc. GDP đầu người của Thượng Hải là 5.620 USD, của Hong Kong là 37.400. Hong Kong có lợi thế hơn về hệ thống pháp luật, hội nhập quốc tế, tự do hóa hơn và kinh nghiệm kinh tài cao hơn. Thượng Hải có mối liên hệ với lục địa Trung Hoa sâu hơn, mạnh hơn về ngành chế tạo và công nghệ. Thượng Hải đã và đang nâng cao vai trò là địa điểm của nhiều trụ sở các tập đoàn kinh tế, tài chính, thương mại, ngân hàng và giáo dục quốc tế. Tăng trưởng GDP đã đạt 2 con số liên tục trong 14 năm. Năm 2005, tỷ lệ tăng trưởng GDP là 11,1%, đạt 114 tỷ USD. Thượng Hải đang trải qua thời kỳ bùng nổ xây dựng, đặc biệt là xây dựng các cao ốc, các công trình công cộng khổng lồ với thiết kế hiện đại, độc đáo (như tháp truyền hình, nhà hát...). Khu Phố Đông là một khu đô thị mới với tốc độ xây dựng nhanh chóng, khoảng hơn 10 năm và đã trở thành trung tâm mới của Thượng Hải với rừng cao ốc.

 

Tháp truyền hình Minh Châu

 

Tháp truyền hình Minh Châu (Hán tự: 明珠, 明 là sáng, 珠 là ngọc, nghĩa là viên ngọc sáng) là tháp truyền hình cao thứ ba thế giới - sau tháp truyền hình ở Toronto (Canada) và Moscow (Nga) - nó cao tới 468 mét. Mặc dù vậy, bạn chỉ có thể tham quan tại 350 mét trở xuống. Tháp có hệ thống thang máy rất nhanh (10m/s).

Ở độ cao 263 mét là một khu sân hình tròn. Đây là nơi để du khách ngắm toàn cảnh Thượng Hải

 

Các đường link du học Trung Quốc hữu ích  

 

Các trường đại học Trung Quốc - Top 500 các trường đại học trên thế giới

 

Học bổng du học Trung Quốc - Các websites tìm kiếm học bổng Trung Quốc

 

Du học hè Trung Quốc cùng Nhật Vinh ETS và đối tác

 

Điểm đến du học các nước trên thế giới cùng Nhật Vinh ETS

 

Học bổng du học ETS - Học bổng các nước cùng Nhật Vinh ETS và đối tác!

 

Du học hè ETS 2012  - Du học hè các nước cùng Nhật Vinh ETS và đối tác!

 

 

Du học cùng Nhật Vinh ETS

Tiếp bước thành công!

Vui lòng liên hệ tới du học Nhật Vinh ETS theo địa chỉ dưới đây để có cơ hội được học tập ở các nước trên thế giới:

 

Du học NHẬT VINH ETS

Số 3 ngõ 6 phố Lê Thánh Tông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội

Tel: (04) 3923 3245

Email: duhoc2@nhatvinhets.com

Mobile: 0903 222 942 

Chat Yahoo online: Click here

Liên hệ online: Click here


  Share Topic